Ktl-icon-tai-lieu

phát triễn giáo dục

Được đăng lên bởi gicungduoc
Số trang: 12 trang   |   Lượt xem: 2026 lần   |   Lượt tải: 2 lần
I. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
1. Những thành tựu
a) Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
học tập của nhân dân.
Trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học tăng nhanh, trong đó
mẫu giáo 5 tuổi tăng từ 72% lên 98%; tiểu học từ 94% lên 97%; trung học cơ sở từ
70% lên 83%; trung học phổ thông từ 33% lên 50%; quy mô đào tạo nghề tăng 3,08
lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần; quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần.
Năm 2010, số sinh viên cao đẳng và đại học trên một vạn dân đạt 227; tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo đạt 40%, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc đã mở rộng cơ hội học
tập cho mọi người, bước đầu xây dựng xã hội học tập. Đã xóa được "xã trắng" về giáo
dục mầm non; trường tiểu học có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở đã có ở hầu
hết các xã hoặc liên xã; trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện. Các tỉnh và
huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số đã có trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ
thông dân tộc bán trú. Mạng lưới trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập
cộng đồng phát triển mạnh. Các cơ sở đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao
đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn đông dân cư, các vùng, các địa
phương, kể cả ở vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu
Long.
Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo
dục trung học cơ sở và đang đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; một số địa phương đang thực
hiện phổ cập giáo dục trung học.
b) Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ. Trình độ hiểu
biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên được nâng cao một bước.
Số đông học sinh, sinh viên tốt nghiệp có hoài bão lập thân, lập nghiệp và tinh thần tự
lập; đại bộ phận sinh viên tốt nghiệp đã có việc làm. Phát triển giáo dục và đào tạo đã
chuyển theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
khoa học và công nghệ; đã mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới, bước đầu đáp ứng
nhu cầu của thị trường lao động.
Chất lượng giáo dục mũi nhọn đã được coi trọng thông qua việc phát triển hệ thống
trường chuyên, trường năng khiếu và thực hiện các chương trình đào tạo chất lượng
cao, chương trình tiên tiến ở nhiều trường đại học và cao đẳng nghề.
c) Công bằng xã hội trong tiếp ...
I. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
1. Những thành tựu
a) Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
học tập của nhân dân.
Trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học tăng nhanh, trong đó
mẫu giáo 5 tuổi tăng từ 72% lên 98%; tiểu học từ 94% lên 97%; trung học cơ sở từ
70% lên 83%; trung học phổ thông từ 33% lên 50%; quy mô đào tạo nghề tăng 3,08
lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần; quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần.
Năm 2010, số sinh viên cao đẳng và đại học trên một vạn dân đạt 227; tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo đạt 40%, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc đã mở rộng cơ hội học
tập cho mọi người, bước đầu xây dựng xã hội học tập. Đã xóa được "xã trắng" về giáo
dục mầm non; trường tiểu học có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở đã có ở hầu
hết các xã hoặc liên xã; trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện. Các tỉnh và
huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số đã có trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ
thông dân tộc bán trú. Mạng lưới trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập
cộng đồng phát triển mạnh. Các cơ sở đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao
đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn đông dân cư, các vùng, các địa
phương, kể cả ở vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu
Long.
Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo
dục trung học cơ sở và đang đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; một số địa phương đang thực
hiện phổ cập giáo dục trung học.
b) Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ. Trình độ hiểu
biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên được nâng cao một bước.
Số đông học sinh, sinh viên tốt nghiệp có hoài bão lập thân, lập nghiệp và tinh thần tự
lập; đại bộ phận sinh viên tốt nghiệp đã có việc làm. Phát triển giáo dục và đào tạo đã
chuyển theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
khoa học và công nghệ; đã mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới, bước đầu đáp ứng
nhu cầu của thị trường lao động.
Chất lượng giáo dục mũi nhọn đã được coi trọng thông qua việc phát triển hệ thống
trường chuyên, trường năng khiếu và thực hiện các chương trình đào tạo chất lượng
cao, chương trình tiên tiến ở nhiều trường đại học và cao đẳng nghề.
c) Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt người dân tộc
thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ em gái và các đối tượng bị thiệt thòi ngày
càng được quan tâm. Về cơ bản, đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục phổ
thông và giáo dục đại học. Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu,
vùng xa tiếp tục phát triển. Một số chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho
vay đi học và hỗ trợ khác đối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách đã mang
lại hiệu quả thiết thực trong việc thực hiện công bằng xã hội và phát triển nguồn nhân
lực chất lượng ngày một cao.
phát triễn giáo dục - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
phát triễn giáo dục - Người đăng: gicungduoc
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
12 Vietnamese
phát triễn giáo dục 9 10 419