Ktl-icon-tai-lieu

Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Được đăng lên bởi Nguyen Nguyen
Số trang: 5 trang   |   Lượt xem: 228 lần   |   Lượt tải: 0 lần
Câu 4 : Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.
Từ đó rút ra từ việc nghiên cứu này
Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học duy vật đã cho rằng bản chất
thế giới là vật chất, không phải do thần linh, thượng đế sáng tạo ra. Vật
chất được xem là cơ sở ban đầu của tất cả mọi sự vật hiện tượng trong
thế giới và đó có thể là một hoặc một số chất nào đó. Mặt tích cực của
quan niệm đó là đã giải thích thế giới từ chính bản thân nó (lập trường
duy vật), vì vậy nó là cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề triết học khác
sau này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của KH và tiến bộ XH. Tuy
nhiên, quan niệm đó còn mang tính thô sơ, cảm tính, chủ yếu dựa vào
những phỏng đoán, thiếu những căn cứ KH vững chắc.
Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất như sau : “Vật
chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Với định nghĩa trên, Lênin đã chỉ ra rằng vật chất không phải là
một chất cụ thể như các nhà triết học duy vật trước Mác quan niệm, mà
là sự khái quát của tư duy nhằm rút ra cái chung, cái vốn có phổ biến
trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đó là thực tại khách
quan. Thực tại khách quan (hay tồn tại khách quan), tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác (ý thức của con người) tức là sự tồn tại có thật,
không phải do ý thức chủ quan của con người sản sinh ra, mà đó là sự
tồn tại, vận động, chuyển hóa và phát triển theo những quy luật vốn có
của bản thân nó, không phụ thuộc vào ý thức. Tồn tại khách quan đó
được biểu hiện ra muôn hình muôn vẻ, luôn biến đổi, chuyển hóa không
ngừng, đó có thể là tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội ... Dù khác nhau
nhưng cái chung nhất của chúng là tồn tại khách quan, không phụ thuộc
vào ý thức, ý muốn chủ quan của con người. Và Lênin cũng chỉ rõ là ý
thức (cảm giác) của con người là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại vật
chất. Nghĩa là vật chất là tính thứ nhất (nguyên bản), ý thức là tính thứ
hai (bản sao) của vật chất và với sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại đó,
con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất.
Triết học DVBC cho rằng ý thức của con người không phải là một
hiện tượng thần bí tách rời khỏi vật chất, mà ý thức là đặc tính của một
dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc con người, là sự phản ánh các
sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc trên nền tảng của
hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ...
Câu 4 : Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất ý thức.
Từ đó rút ra từ việc nghiên cứu này
Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học duy vật đã cho rằng bản chất
thế giới vật chất, không phải do thần linh, thượng đế sáng tạo ra. Vật
chất được xem sở ban đầu của tất cả mọi sự vật hiện tượng trong
thế giới đó thể một hoặc một số chất nào đó. Mặt tích cực của
quan niệm đó đã giải thích thế giới từ chính bản thân (lập trường
duy vật), vì vậy nó là cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề triết học khác
sau này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của KH tiến bộ XH. Tuy
nhiên, quan niệm đó còn mang tính thô sơ, cảm tính, chủ yếu dựa vào
những phỏng đoán, thiếu những căn cứ KH vững chắc.
Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất như sau : “Vật
chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Với định nghĩa trên, Lênin đã chỉ ra rằng vật chất không phải
một chất cụ thể như các nhà triết học duy vật trướcc quan niệm,
sự khái quát của duy nhằm rút ra cái chung, cái vốn phổ biến
trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đóthực tại khách
quan. Thực tại khách quan (hay tồn tại khách quan), tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác thức của con người) tức sự tồn tại thật,
không phải do ý thức chủ quan của con người sản sinh ra, mà đó sự
tồn tại, vận động, chuyển hóa phát triển theo những quy luật vốn
của bản thân nó, không phụ thuộc vào ý thức. Tồn tại khách quan đó
được biểu hiện ra muôn hình muôn vẻ, luôn biến đổi, chuyển hóa không
ngừng, đó thể tồn tại trong tự nhiên, trong hội ... khác nhau
nhưng cái chung nhất của chúng tồn tại khách quan, không phụ thuộc
vào ý thức, ý muốn chủ quan của con người. nin cũng chỉ ý
thức (cảm giác) của con người sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại vật
chất. Nghĩa vật chất tính thứ nhất (nguyên bản), ý thức tính th
hai (bản sao) của vật chất với sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại đó,
con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất.
Triết học DVBC cho rằng ý thức của con người không phải là một
hiện tượng thần tách rời khỏi vật chất, ý thức đặc tính của một
dạng vật chất có tổ chức đặc biệtbộ óc con người, sự phản ánh các
sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc trên nền tảng của
hoạt động lao động sáng tạo được hiện thực hóa bằng nn ngữ. Ý
thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Xét về nguồn gốc thì ý thức vừa nguồn gốc tự nhiên, vừa
nguồn gốc XH. Nguồn gốc tự nhiên ý thức chỉ thuộc tính của
một dạng vật chất sống tổ chức cao bộ não con người, đây
quan vật chất của ý thức, các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực
đối tượng được phản ánh, kết quả sự phản ánh tạo nên hình ảnh của
đối tượng trong bộ óc, phản ánh là đặc tính chung của mọi đối tượng vật
chất tùy theo trình độ phát triển của vật chất phản ánh cũng
nhiều mức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Như vậy, bộ óc của con
người cùng với thế giới n ngoài tác động n bộ óc - đó nguồn gốc
tự nhiên của ý thức. Nguồn gốc XH là vì ý thức được hình thành và phát
triển chủ yếu do những tiền đề, nguồn gốc xã hội, ý thức ra đời cùng với
quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động sáng tạo, ngôn ngữ
Chủ nghĩa duy vật biện chứng - Trang 2
Chủ nghĩa duy vật biện chứng - Người đăng: Nguyen Nguyen
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
5 Vietnamese
Chủ nghĩa duy vật biện chứng 9 10 729