Ktl-icon-tai-lieu

Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Được đăng lên bởi kimcuchoahong79
Số trang: 11 trang   |   Lượt xem: 1961 lần   |   Lượt tải: 3 lần
Bài 1
NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯƠC
1. Nguồn gốc của Nhà nưóc
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa có chọn lọc những hạt nhân
hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã giải thích đúng đắn nguồn gốc xuất hiện
nhà nước. Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã chứng minh nhà nước
không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước là phạm trù lịch sử, có quá trình phát
sinh, phát triển, tiêu vong. Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một
giai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất
đi.
1.1. Chế độ cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc - bộ lạc và quyền lực xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái
kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người. Trong xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có
nhà nước. Nhưng trong xã hội này lại chứa đựng những nguyên nhân làm xuất hiện nhà
nước..
Xã hội cộng sản nguyên thuỷ được xây dựng trên nền tảng của chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất và phân phối bình đẳng của cải. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động còn thô sơ, sự hiểu biết về
thế giới tự nhiên của người lao động còn lạc hậu, vì thế con người để kiếm sống và bảo vệ
mình phải dựa vào nhau cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thành quả của lao động
chung. Trong điều kiện đó nên không ai có tài sản riêng, không có người giàu, người nghèo,
xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh giai cấp.
Từ chế độ kinh tế như vậy đã quyết định tổ chức xã hội của xã hội cộng sản nguyên
thuỷ. Hình thức tổ chức xã hội và cách thức quản lý của xã hội cộng sản nguyên thuỷ rất đơn
giản. Tế bào của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là thị tộc.
Trong thị tộc mọi thành viên đều tự do, bình đẳng, không một ai có đặc quyền, đặc lợi
gì. Mặc dù trong xã hội cũng đã có sự phân chia lao động nhưng đó là sự phân chia trên cơ sở
tự nhiên, theo giới tính hoặc lứa tuổi chứ chưa mang tính xã hội.
Thị tộc là hình thức tự quản đầu tiên trong xã hội. Để tổ chức và điều hành hoạt động
chung của xã hội, thị tộc cũng đã có quyền lực và một hệ thống quản lý công việc của thị tộc.
Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ mới chỉ là quyền lực xã hội do toàn xã hội tổ
chức ra và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.
Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã tồn tại quyền lực, nhưng quyền lực này
không ...
Bài 1
NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯƠC
1. Nguồn gốc của Nhà nưóc
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa chọn lọc những hạt nhân
hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã giải thích đúng đắn nguồn gốc xuất hiện
nhà nước. Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã chứng minh nhà nước
không phải hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước phạm trù lịch sử, quá trình phát
sinh, phát triển, tiêu vong. Nhà nước chỉ xuất hiện khi hội loài người phát triển đến một
giai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất
đi.
1.1. Chế độ cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc - bộ lạc và quyền lực xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế đ cộng sản nguyên thuỷ hình thái
kinh tế - hội đầu tiên củahội loài người. Tronghội chưa phân chia giai cấp, chưa có
nhà nước. Nhưng trong hội này lại chứa đựng những nguyên nhân làm xuất hiện nhà
nước..
hội cộng sản nguyên thuỷ được xây dựng trên nền tảng của chế độ công hữu về
liệu sản xuất và phân phối nh đẳng của cải. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động còn thô sơ, sự hiểu biết về
thế giới tự nhiên của người lao động còn lạc hậu, thế con người để kiếm sống bảo vệ
mình phải dựa vào nhau cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thành quả của lao động
chung. Trong điều kiện đó nên không ai tài sản riêng, không người giàu, người nghèo,
xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh giai cấp.
Từ chế độ kinh tế như vậy đã quyết định tổ chức hội của hội cộng sản nguyên
thuỷ. Hình thức tổ chức xã hội và cách thức quản lý của hội cộng sản nguyên thuỷ rất đơn
giản. Tế bào của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là thị tộc.
Trong thị tộc mọi thành viên đều tự do, bình đẳng, không một ai đặc quyền, đặc lợi
gì. Mặc dù trong xã hội cũng đã có sự phân chia lao động nhưng đó là sự phân chia trên cơ sở
tự nhiên, theo giới tính hoặc lứa tuổi chứ chưa mang tính xã hội.
Thị tộc hình thức tự quản đầu tiên trong hội. Để tổ chức và điều hành hoạt động
chung của xã hội, thị tộc cũng đã có quyền lực và một hệ thống quản lý công việc của thị tộc.
Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ mới chỉ quyền lực hội do toàn hội tổ
chức ra và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.
Như vậy, tronghội cộng sản nguyên thuỷ đã tồn tại quyền lực, nhưng quyền lực này
không phải là quyền lực đặc biệt do một giai cấp hay một cá nhân tổ chức ra, mà đó quyền
lực xã hội được tổ chức và thực hiện trên cơ sở dân chủ thực sự, quyền lực này xuất phát từ xã
hội và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng.
1.2. Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện nhà nước
hội cộng sản nguyên thuỷ chưa biết đến nhà nước, nhưng chính trong ng hội
đó đã nảy sinh những tin đề vật chất cho sự ra đời của nhà nước. Những nguyên nhân làm
chế độ hội cộng sản nguyên thuỷ tan đồng thời cũng những nguyên nhân xuất hiện
nhà nước. Đóng vai trò quan trọng trong việc làm tan rã chế độ cộng sản nguyên thuỷ chuyển
chế độ cộng sản nguyên thuỷ lên một hình thái kinh tế hội mới cao hơn đó sự phân
công lao động xã hi. Lịch sử hội cổ đại đã trải qua ba lần phân công lao độnghội, đó
là: 1, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; 2, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3, thương
nghiệp xuất hiện.
Qua ba lần phân công lao động xã hội đã làm cho nn kinh tế xã hội có sự biến chuyển
sâu sắc, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sản phẩm thừa, thế kéo theo hiện
tượng chiếm của cải thừa làm của riêng. Quá trình phân hoá tài sản làm xuất hiện chế độ
tư hữu và kéo theo là sự phân chia giai cấp trong xã hội.
1
Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Người đăng: kimcuchoahong79
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
11 Vietnamese
Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 9 10 773