Ktl-icon-tai-lieu

Ảnh hưởng của trâu đực giống ngoại hình to tới khả năng sinh trưởng của đời con

Được đăng lên bởi hoangchinh40mg
Số trang: 8 trang   |   Lượt xem: 634 lần   |   Lượt tải: 0 lần
ẢNH HƯỞNG CỦA TRÂU ĐỰC GIỐNG NGOẠI HÌNH TO TỚI KHẢ NĂNG
SINH TRƯỞNG CỦA ĐỜI CON
Trịnh Văn Trung, Nguyễn Công Định và Trần Trọng Thêm
Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi
Tóm tắt
Đàn trâu của xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội thuộc loại hình tầm vóc bé. Đàn con sinh ra từ việc sử dụng 6 trâu
đực giống loại hình to phối với: 10 trâu cái địa phương đã được cải tạo trước đây (Thế hệ 1) là lô thí nghiệm 1
(TN1), 20 trâu cái tuyển chọn trong dân là lô thí nghiệm 2 (TN2) và 3 trâu đực đại trà phối với 90 trâu cái đại trà
trong dân là lô ĐC để đánh giá khả năng cải tạo về tầm vóc: khối lượng (KL) và kích thước (KT) một số chiều đo
chính của đực giống Ngố.
Kết quả nghiên cứu cho thấy KL nghé ở các mốc tuổi sơ sinh, 6, 12 và 24 tháng lớn nhất ở lô TN1, tiếp
theo là lô TN2 và nhỏ nhất là lô ĐC. Kích thước (KT) các chiều đo cơ thể nghé ở các mốc tuổi trên cũng tương tự
như KL ở các lô TN: KL của nghé thế hệ I cao hơn 10,1-15,5 % so với đại trà, thế hệ II cao hơn 11,4-20,4% so với
lô đại trà và 1,1%-4,2% so với thế hệ I.
Ở thế hệ II, tăng KL của nghé cũng thể hiện cao nhất ở lô TN1, tiếp theo lô TN2 và thấp nhất ở lô ĐC. Giai
đoạn 12-24 tháng tuổi, lô TN1 và lô TN2 có TKL tương đương nhau và đều cao hơn so với lô ĐC. Song, do số
lượng nghé ở thế hệ II còn ít và hầu hết là con so nên TKL cần phải được theo dõi tiếp để đánh giá chính xác khả
năng cải tạo của trâu đực giống loại hình to.

1. Đặt vấn đề

Trâu của nước ta được thuần hóa chủ yếu phục vụ cho cày kéo ở nông thôn. Do vậy, tầm
vóc bé, sinh trưởng chậm, thành thục muộn, khoảng cách hai lứa đẻ dài, khả năng cho thịt, sữa
thấp. Những năm qua, công tác giống trâu của ta làm chưa tốt, trên thực tế đàn trâu đang có hiện
tượng bị chọn lọc ngược: Trâu đực to bị bán đi giết thịt, trâu nhỏ được giữ lại cày kéo và đồng
thời được sử dụng làm giống; đàn trâu cái chưa được chọn lọc nên tầm vóc có xu hướng giảm
dần. Vũ Duy Giảng và cs. (1999) đã điều tra đánh giá tình hình phát triển đàn trâu miền Bắc cho
thấy KL trâu hiện tại thấp so với trước đây. Số liệu của nhiều địa phương cho thấy, ở 2 năm tuổi
trâu đực chỉ đạt 234 kg, trâu cái 183 kg; ở Phổ Yên (Thái Nguyên) trâu đực trưởng thành là 334
kg, trâu cái trưởng thành 306 kg.
Trong công tác giống, chọn lọc, nhân thuần là công việc rất cần thiết và cần phải tiến
hành thường xuyên. Theo nhiều nhà nghiên cứu trước đây cho thấy, trâu nội nước ta có khả năng
sinh trưởng tốt và nếu dùng trâu đực loại hình to để làm giống sẽ góp phần cải tạo tầm vóc trâu
ngoại hình nhỏ của địa phương (Nguyễn Đ...
ẢNH HƯỞNG CỦA TRÂU ĐỰC GIỐNG NGOẠI HÌNH TO TỚI KHẢ NĂNG
SINH TRƯỞNG CỦA ĐỜI CON
Trịnh Văn Trung, Nguyễn Công Định và Trần Trọng Thêm
Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi
Tóm tt
Đàn trâu của xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội thuộc loại hình tầm vóc bé. Đàn con sinh ra từ việc sử dụng 6 trâu
đực giống loại hình to phối với: 10 trâu i địa phương đã được cải tạo trước đây (Thế hệ 1) thí nghiệm 1
(TN1), 20 trâu i tuyển chọn trong dân tnghiệm 2 (TN2) 3 trâu đực đại trà phối với 90 trâu cái đại trà
trong dân ĐC đđánh giá khả năng cải tạo về tầm vóc: khối lượng (KL) kích thước (KT) một số chiều đo
chính của đực giống Ngố.
Kết quả nghiên cứu cho thấy KL nghé các mốc tuổi sinh, 6, 12 24 tháng lớn nhất TN1, tiếp
theo TN2 nhỏ nhất ĐC. Kích thước (KT) các chiều đo thể nghé các mốc tuổi trên ng tương tự
như KL các TN: KL của nghé thế hệ I cao hơn 10,1-15,5 % so với đại trà, thế hệ II cao hơn 11,4-20,4% so với
lô đại trà và 1,1%-4,2% so với thế hệ I.
Ở thế hệ II, tăng KL của nghé cũng thể hiện cao nhất ở lô TN1, tiếp theo lô TN2 và thấp nhất ở ĐC. Giai
đoạn 12-24 tháng tuổi, TN1 TN2 TKL tương đương nhau đều cao hơn so với ĐC. Song, do số
lượng nghé thế hệ II còn ít hầu hết con so n TKL cần phải được theo dõi tiếp để đánh giá chính xác khả
năng cải tạo của trâu đực giống loại hình to.
1. Đặt vn đề
Trâu của nước ta được thuần hóa chủ yếu phục vụ cho cày kéo nông thôn. Do vậy, tầm
vóc bé, sinh trưởng chậm, thành thục muộn, khoảng cách hai lứa đẻ dài, khả năng cho thịt, sữa
thấp. Những năm qua, công tác giống trâu của ta làm chưa tốt, trên thực tế đàn trâu đang có hiện
tượng bị chọn lọc ngược: Trâu đực to bị n đi giết thịt, trâu nhỏ được giữ lại cày kéo đồng
thời được sử dụng làm giống; đàn trâu cái chưa được chọn lọc nên tầm vóc xu hướng giảm
dần. Vũ Duy Giảng cs. (1999) đã điều tra đánh giá tình hình phát triển đàn trâu miền Bắc cho
thấy KL trâu hiện tại thấp so với trước đây. Số liệu của nhiều địa phương cho thấy, ở 2 m tuổi
trâu đực chỉ đạt 234 kg, trâu cái 183 kg; Phổ Yên (Thái Nguyên) trâu đực trưởng thành 334
kg, trâu cái trưởng thành 306 kg.
Trong công tác giống, chọn lọc, nhân thuần công việc rất cần thiết cần phải tiến
hành thường xuyên. Theo nhiều nhà nghiên cứu trước đây cho thấy, trâu nội nước ta có khả năng
sinh trưởng tốt nếu dùng trâu đực loại hình to để làm giống sẽ góp phần cải tạo tầm vóc trâu
ngoại hình nhỏ của địa phương (Nguyễn Đức Thạc, 1983; Mai Văn Sánh, 2008A). Kinh nghiệm
từ Thái Lan một số nước khác cũng cho thấy chương trình quốc gia về tạo trâu đực giống
chọn trâu cái tốt đã góp phần cải thiện đáng kể tầm vóc đàn trâu địa phương. Cụ thể, sau 10 năm
thực hiện chương trình quốc gia, KL nghé sinh tăng 7,7 % (từ 28, 4 n 30,6 kg), lúc cai sữa
(8 tháng tuổi) tăng 38 % (từ 121 lên 167 kg), 2 năm tuổi tăng 18 % (từ 268 lên 317 kg). Tỷ lệ đẻ
của đàn cái sinh sản tăng từ 60,6 lên 69 %, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ rút ngằn
tương ứng từ 4,5 xuống 3,37 năm từ 587 ngày xuống 468 ngày (Aleko Alexiev, 1998; Charan
Chantalakhana và Pakapun Skunmun, 2002).
Ảnh hưởng của trâu đực giống ngoại hình to tới khả năng sinh trưởng của đời con - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
Ảnh hưởng của trâu đực giống ngoại hình to tới khả năng sinh trưởng của đời con - Người đăng: hoangchinh40mg
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
8 Vietnamese
Ảnh hưởng của trâu đực giống ngoại hình to tới khả năng sinh trưởng của đời con 9 10 435