Ktl-icon-tai-lieu

Ôn tập cuối kì tiền tệ ngân hàng

Được đăng lên bởi thuhna12404a
Số trang: 15 trang   |   Lượt xem: 963 lần   |   Lượt tải: 1 lần
Tỷ lệ "đô la hóa" ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đồng ngoại tệ chưa được công nhận chính thức trong giao dịch, nên vấn đề "đô la hóa" vẫn đang
được Nhà nước kiểm soát. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải
hội nhập với tốc độ nhanh hơn, mức độ lớn hơn. Mặt trái mà chúng ta đang phải đối mặt là xử lý các nguồn
vốn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào nước ta với khối lượng lớn và ồ ạt. Đây cũng chính là nguy cơ tiềm ẩn
mức độ "đô la hóa" ngày càng gia tăng.
Hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng ngoại tệ trong giao dịch, buôn bán bắt đầu được quan
tâm từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng ngoại tệ. Đến năm 1992, tình trạng "đô la
hóa" đã tăng mạnh với hơn 41% lượng tiền gửi vào các ngân hàng là bằng ngoại tệ. Từ năm 2000 đến nay tỷ
lệ này dao động từ 20% đến 32% (Theo IMF nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì mức độ đô la hóa nền kinh tế
được coi là ở mức cao, trung bình là từ 15% - 30% còn nếu tỷ lệ này ở mức dưới 15% thì coi là "đô la hóa"
thấp). "Đô la hóa" có những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, việc
đánh giá đúng mức độ "đô la hóa", tác động của "đô la hóa" đối với nền kinh tế là cần thiết góp phần kiểm soát
tình trạng đô la hóa, ổn định phát triển nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Việc xác định tỷ lệ "đô la hóa" theo công thức FCD/M2 chỉ chính xác đối với những nước phần lớn giao dịch
thanh toán thực hiện qua ngân hàng còn ở Việt Nam, nơi có tỷ lệ sử dụng tiền mặt lớn, tỷ lệ FCD/M2 sẽ khó
phản đầy đủ về thực trạng "đô la hoá". Hơn nữa, "đô la hóa" được đánh giá là tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ
trong tổng khối lượng tiền mở rộng, bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn và tiền gửi ngoại tệ.

Ở Việt Nam, việc xác định lượng ngoại tệ càng khó hơn khi tình trạng buôn lậu và tham nhũng vẫn chưa được
kiểm soát, nên chỉ có thể căn cứ vào nguồn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước theo các hình thức
như: kiều hối, buôn bán tiểu ngạch, thu nhập từ buôn lậu, quà biếu, quà tặng bằng ngoại tệ, các giao dịch có
giá trị lớn như mua bán bất động sản, xe hơi… Không chỉ vậy, tâm lý cất trữ ngoại tệ, sử dụng ngoại tệ trong
thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ trong dân hiện vẫn còn rất lớn và phổ biến. Do đó, để đánh giá chính
xác tình hình "đô la hóa" cần phải dựa trên nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là lượng ngoại tệ thực sự được sử
dụng trong giao dịch, thanh toán.
Nguyên nhân của tình trạng "đô la hó...
Tỷ lệ "đô la hóa" ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đồng ngoại tệ chưa được công nhận chính thức trong giao dịch, nên vấn đề "đô la hóa" vẫn đang
được Nhà nước kiểm soát. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải
hội nhập với tốc độ nhanh hơn, mức độ lớn hơn. Mặt trái chúng ta đang phải đối mặt xử các nguồn
vốn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào nước ta với khối lượng lớn và ồ ạt. Đây cũng chính là nguy cơ tiềm ẩn
mức độ "đô la hóa" ngày càng gia tăng.
Hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng ngoại tệ trong giao dịch, buôn bán bắt đầu được quan
tâm từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng ngoại tệ. Đến năm 1992, tình trạng "đô la
hóa" đã tăng mạnh với hơn 41% lượng tiền gửi vào các ngân hàng bằng ngoại tệ. Từ năm 2000 đến nay tỷ
lệ này dao động từ 20% đến 32% (Theo IMF nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì mức độ đô la hóa nền kinh tế
được coi mức cao, trung bình từ 15% - 30% còn nếu tỷ lệ này mức dưới 15% thì coi "đô la hóa"
thấp). "Đô la hóa" những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, việc
đánh giá đúng mức độ "đô la hóa", tác động của "đô la hóa" đối với nền kinh tế là cần thiết góp phần kiểm soát
tình trạng đô la hóa, ổn định phát triển nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Việc xác định tỷ lệ "đô la hóa" theo công thức FCD/M2 chỉ chính xác đối với những nước phần lớn giao dịch
thanh toán thực hiện qua ngân hàng còn Việt Nam, nơi tỷ lệ sử dụng tiền mặt lớn, tỷ lFCD/M2 sẽ khó
phản đầy đủ về thực trạng "đô la hoá". Hơn nữa,ô la hóa" được đánh giá tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ
trong tổng khối lượng tiền mở rộng, bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi kỳ
hạn và tiền gửi ngoại tệ.
Ở Việt Nam, việc xác định lượng ngoại tệ càng khó hơn khi tình trạng buôn lậu và tham nhũng vẫn chưa được
kiểm soát, nên chỉ có thể căn cứ vào nguồn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước theo các hình thức
như: kiều hối, buôn bán tiểu ngạch, thu nhập từ buôn lậu, quà biếu, quà tặng bằng ngoại tệ, các giao dịch
giá trị lớn như mua bán bất động sản, xei… Không chỉ vậy,m cất trữ ngoại tệ, sử dụng ngoại ttrong
thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ trong dân hiện vẫn còn rất lớn phổ biến. Do đó, để đánh giá chính
xác tình hình "đô la hóa" cần phải dựa trên nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu lượng ngoại tệ thực sự được sử
dụng trong giao dịch, thanh toán.
Nguyên nhân của tình trạng "đô la hóa" ở Việt Nam
Nguyên nhân khách quan
Hiện tượng "đô la hóa" bắt nguồn từchế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát
triển đặc biệt đồng USD được sử dụng trong lưu thông quốc tế giữ vai trò của “tiền tệ thế giới”. Nói cách
khác, đồng USD một đồng tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi lưu hành khắp thế giới. đã
đang dần thay thế vàng thực hiện vai trò tiền tệ thế giới từ đầu thế kỷXX. Ngoài đồng USD còn một số đồng
tiền của các quốc gia khác cũng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch nhưng giá trị của các đồng tiền này
trong lưu thông quốc tế không lớn, chỉ đồng USD chiếm tỷtrọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao
thương mại thế giới) cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hóa là “đô la hóa”.
Trong thời gian vừa qua, nền kinh tế Việt Nam rơio tình trạng lạm phát, sức mua của đồng nội tệ giảm sút
người dân phải tìm các công cụ dự tr giá trị khác, trong đó đồng USD. Tất cả các nền kinh tế bị ô la
hóa" đều nguồn gốc từ niềm tin của người dân. H mất lòng tin vào chính sách tiền tệ do tỷ lệ lạm phát
không ổn định trong một thời gian dài và đồng nội tệ bị mất giá, tỷ giá hối đoái tăng. Do vậy, họ chuyển các tài
sản danh nghĩa sang một đồng tiền ổn định hơn hoặc các tài sản thực.
Tính chuyển đổi của đồng nội tệ: nghĩa VND chưa được tự do chuyển đổi, đặc biệt là cán cân vãng lai,
kém hấp dẫn so với ngoại tệ. Bởi do không được đảm bảo sức mua đầy đủ với tỷ giá thực tế khi nhu cầu,
Ôn tập cuối kì tiền tệ ngân hàng - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
Ôn tập cuối kì tiền tệ ngân hàng - Người đăng: thuhna12404a
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
15 Vietnamese
Ôn tập cuối kì tiền tệ ngân hàng 9 10 695