Ktl-icon-tai-lieu

Áp dung pháp luật đất đai đối với đất không có giấy tờ

Được đăng lên bởi KS KL
Số trang: 4 trang   |   Lượt xem: 353 lần   |   Lượt tải: 1 lần
Đất không có giấy tờ, những điều cần lưu ý.
Thứ nhất, vấn đề xử lý đất lấn, chiếm xảy ra trước ngày 01/7/2004. Với những quy
định hiện hành đã đồng nhất tình trạng sử dụng đất không còn giấy tờ chứng minh
căn cứ chiếm dụng do bị thất lạc vì nguyên nhân chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn
hay rủi ro khác với tình trạng sử dụng đất không có giấy tờ do lấn, chiếm mà có;
hoặc nhận chuyển nhượng từ người lấn, chiếm vào chung 01 nhóm để giải quyết là
không hợp lý. Cụ thể tại khoản 4 Điều 50, Luật Đất đai quy định “Hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này
nhưng đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân
dân xã phường, trị trấn xác nhận là không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử
dụng đất đã được xét duyệt đối với những nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất”. Khoản
6, Điều 50 Luật Đất đai cũng quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này, nhưng đất đã được sử
dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp
với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy họạch sử dụng
đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất
theo quy định của Chính phủ”. Điều 14, 15 Nghị định 84/2007/NĐ-CP tiếp tục cụ
thể hoá vấn đề này và quy định chỉ không cấp giấy chứng nhận cho các trường hợp
tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi “vi phạm quy hoạch
chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai; vi phạm
quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và
công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý; lấn,
chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã đựơc công bố, cắm mốc;
lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng; lấn chiếm đất sử dụng
cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng của các tổ chức, đất chưa sử dụng và các
trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn, nhưng người sử dụng đất vẫn
cố tình vi phạm”.
Như vậy, rõ ràng là không có sự phân biệt giữa người sử dụng đất không có giấy tờ
do nguyên nhân rủi ro với người lấn, chiếm đất. Điều này dễ dẫn đến sự tuỳ tiện
của cán bộ cấp xã khi xác định thời điểm lấn chiếm, khi mà trong thực tế, hành vi
lấn, chiếm đất cũng rất khó xác định ch...
Đất không có giấy tờ, những điều cần lưu ý.
Thứ nhất, vấn đề xử lý đất lấn, chiếm xảy ra trước ngày 01/7/2004. Với những quy
định hiện hành đã đồng nhất tình trạng sử dụng đất không còn giấy tờ chứng minh
căn cứ chiếm dụng do bị thất lạc nguyên nhân chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn
hay rủi ro khác với tình trạng sử dụng đất không giấy tờ do lấn, chiếm có;
hoặc nhận chuyển nhượng từ người lấn, chiếm vào chung 01 nhóm để giải quyết
không hợp lý. Cụ thể tại khoản 4 Điều 50, Luật Đất đai quy định “Hộ gia đình,
nhân đang sử dụng đất không các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này
nhưng đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân
dân xã phường, trị trấn xác nhận là khôngtranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử
dụng đất đã được xét duyệt đối với những nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất”. Khoản
6, Điều 50 Luật Đất đai cũng quy định: "Hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất
không các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều y, nhưng đất đã được sử
dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật này hiệu lực thi hành, nay được
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp
với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã quy họạch sử dụng
đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất
theo quy định của Chính phủ”. Điều 14, 15 Nghị định 84/2007/NĐ-CP tiếp tục cụ
thể hoá vấn đề nàyquy định chỉ không cấp giấy chứng nhận cho các trường hợp
tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã một trong các hành vi “vi phạm quy hoạch
chi tiết xây dựng đã được quan thẩm quyền xét duyệt công khai; vi phạm
quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được quan có thẩm quyền xét duyệt
công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân quản lý; lấn,
chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã đựơc công bố, cắm mốc;
lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa đã chỉ giới xây dựng; lấn chiếm đất sử dụng
cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng của các tổ chức, đất chưa sử dụng và các
trường hợp vi phạm khác đã văn bản ngăn chặn, nhưng người sử dụng đất vẫn
cố tình vi phạm”.
Như vậy, rõ ràng là không có sự phân biệt giữa người sử dụng đất không có giấy tờ
do nguyên nhân rủi ro với người lấn, chiếm đất. Điều này dễ dẫn đến sự tuỳ tiện
của cán bộ cấp khi xác định thời điểm lấn chiếm, khi trong thực tế, hành vi
lấn, chiếm đất cũng rất khó c định chính xác thời điểm để giải quyết cho từng
trường hợp, hơn nữa sự khác nhau về c mốc thời gian sẽ dẫn đến sự chênh lệch
khá lớn về quyền lợi của người dân, do đó dễ gây bức xúc cho họ, làm nảy sinh
những khiếu nại, tố cáo phức tạp, khó giải quyết.
Thứ hai, về quy định xác định đất ở trong trường hợp có vườn ao cho những người
sử dụng đất không có giấy tờ.
Áp dung pháp luật đất đai đối với đất không có giấy tờ - Trang 2
Áp dung pháp luật đất đai đối với đất không có giấy tờ - Người đăng: KS KL
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
4 Vietnamese
Áp dung pháp luật đất đai đối với đất không có giấy tờ 9 10 125