Ktl-icon-tai-lieu

Lý luận chung nhà nước và pháp luật

Được đăng lên bởi binhanvnu96
Số trang: 1 trang   |   Lượt xem: 268 lần   |   Lượt tải: 0 lần
1. Cơ sở kinh tế: là quan hệ sản xuất phong kiến đặc trưng bởi
chế độ chiếm hữu cả địa chỉ phong kiến đối với đất đai, tư liệu
sản xuất khác và đối với một phần sức lao động của nông dân
- Phong kiến phương Tây: chế độ tư hữu ruộng đất phát
triển triệt để, nông dân hoàn toàn không có ruộng đất và
trở thành nông nô
- Phong kiến phương Đông: nông dân cày ruộng thuộc
quyền tư hữu của địa chủ phong kiến, theo phát canh và
thu địa tô, hoặc ruộng công hữu thuộc quyền quản lý của
làng xã trên danh nghĩa thuộc quyền sở hữu của nhà vua,
nộp thuế ruộng đất cho nhà nước.
2. Cơ sở xã hội: quan hệ giai cấp được mở rộng, ngoài hai giai
cấp chính là địa chủ và nông dân còn có các tầng lớp thị dân,
thương gia,… Giai cấp thống trị bóc lột thông qua địa tô, thính
chất bóc lột mang tính gián tiếp thông qua đất đai
- Phong kiến phương Tây: phong kiến được gọi là lãnh chúa,
quan hệ bóc lột chủ yếu giữa họ và nông nô
- Phong kiến phương Đông: phong kiến được gọi là địa chủ,
quan hệ bóc lột chủ yếu giữa họ và tá điền
3. Về bản chất, nhà nước phong kiến là công cụ trong tay giai
cấp địa chủ phong kiến để thực hiện chuyên chính đối với giai
cấp nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác, là
phương tiện duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích và sự thống trị
của giai cấp địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến bảo vệ
chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy trì các hình
thức bóc lột với nông dân và các tầng lớp lao động khác, đàn áp
tư tưởng, tuyên truyền hệ tư tưởng phong kiến, nô dịch các tầng
lớp lao động bằng hệ thống tổ chức tôn giáo. Nhà nước phong
kiến có thực hiện những hoạt động kinh tế nhưng với mức độ
hạn chế. Về đối ngoại, nhà nước phong kiến tiến hành chiến
tranh xâm lược mở rộng đất đai – lãnh thổ, cướp bóc của cải và
phòng thủ chống bành chướng, xâm lược.

...
1. sở kinh tế: quan hệ sản xuất phong kiến đặc trưng bởi
chế độ chiếm hữu cả địa chỉ phong kiến đối với đất đai, liệu
sản xuất khác và đối với một phần sức lao động của nông dân
- Phong kiến phương Tây: chế độ hữu ruộng đất phát
triển triệt để, nông dân hoàn toàn không ruộng đất
trở thành nông nô
- Phong kiến phương Đông: nông dân cày ruộng thuộc
quyền hữu của địa chủ phong kiến, theo phát canh
thu địa tô, hoặc ruộng công hữu thuộc quyền quản của
làng trên danh nghĩa thuộc quyền sở hữu của nhà vua,
nộp thuế ruộng đất cho nhà nước.
2. sở hội: quan hệ giai cấp được mở rộng, ngoài hai giai
cấp chính địa chủ nông dân còn các tầng lớp thị dân,
thương gia,… Giai cấp thống trị bóc lột thông qua địa tô, thính
chất bóc lột mang tính gián tiếp thông qua đất đai
- Phong kiến phương Tây: phong kiến được gọi lãnh chúa,
quan hệ bóc lột chủ yếu giữa họ và nông nô
- Phong kiến phương Đông: phong kiến được gọi địa chủ,
quan hệ bóc lột chủ yếu giữa họ và tá điền
3. Về bản chất, nhà ớc phong kiến công cụ trong tay giai
cấp địa chủ phong kiến để thực hiện chuyên chính đối với giai
cấp nông dân, thợ thủ công các tầng lớp lao động khác,
phương tiện duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích sự thống trị
của giai cấp địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến bảo vệ
chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy trì các hình
thức bóc lột với nông dân các tầng lớp lao động khác, đàn áp
tưởng, tuyên truyền hệởng phong kiến, dịch các tầng
lớp lao động bằng hệ thống tổ chức tôn giáo. Nhà nước phong
kiến thực hiện những hoạt động kinh tế nhưng với mức độ
hạn chế. Về đối ngoại, nhà nước phong kiến tiến hành chiến
tranhm lược mở rộng đất đai lãnh thổ, cướp bóc của cải
phòng thủ chống bành chướng, xâm lược.
Lý luận chung nhà nước và pháp luật - Người đăng: binhanvnu96
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
1 Vietnamese
Lý luận chung nhà nước và pháp luật 9 10 988