Ktl-icon-tai-lieu

Văn hóa và hệ thống văn hóa

Được đăng lên bởi quocthien0976-gmail-com
Số trang: 9 trang   |   Lượt xem: 731 lần   |   Lượt tải: 0 lần
Nguồn: Lý Tùng Hiếu (2012), “Văn hoá và hệ thống văn hoá”, Tạp chí Khoa học Văn hoá và
Du lịch (Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật & Du lịch Sài Gòn), số 7 (61), tháng 11/2012,
ISSN: 1859-3720, trang 19-28;  12/12/2012.
-------oOo-------

VĂN HOÁ VÀ HỆ THỐNG VĂN HOÁ
GVC. TS. LÝ TÙNG HIẾU
(Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM)
Văn hoá là những hoạt động đã có từ xưa, ra đời cùng với con người. Nhưng các khái
niệm văn hoá và hệ thống văn hoá thì luôn mới mẻ, vì mỗi thời, mỗi ngành, thậm chí mỗi
người lại đem đến cho chúng những cách hiểu mới, định nghĩa mới. Có người chỉ thấy văn
hoá như một tập hợp các lãnh vực hoạt động thực tiễn của cộng đồng người, có người lại
khăng khăng rằng văn hoá luôn luôn là hệ thống, bao gồm những thành tố mà nội dung, tính
chất phụ thuộc vào loại hình nông nghiệp hay du mục…
Bài viết này không nhằm cung cấp định nghĩa mới cho các khái niệm trên, nhưng
trình bày những cách tiếp cận khác đối với chúng, được phát triển và thể nghiệm trong quá
trình nghiên cứu, giảng dạy và hướng dẫn luận văn luận án của tác giả tại Khoa Văn hoá học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,
Trường Đại học Văn hoá TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Văn hiến.
1. KHÁI NIỆM VĂN HOÁ
Từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào thế kỷ XIX, khái niệm “văn hoá” (culture) đã
được các nhà dân tộc học, nhân học, ngôn ngữ học, văn hoá học… định nghĩa nhiều lần.
Điểm tương đồng của nhiều định nghĩa trong số đó là dùng cách liệt kê những bộ phận, yếu
tố hợp thành ngoại diên của khái niệm văn hoá.
Chẳng hạn, trong ngành dân tộc học, Sir Edward Burnett Tylor (1832-1917), người
sáng lập nhân học xã hội Anh, đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về văn hoá theo cách đó: “Văn
hóa hoặc văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, là cái toàn thể phức hợp bao
gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực hoặc
tập tục khác do con người thụ đắc với tư cách thành viên xã hội” (Primitive Culture, 1871,
1958: 1).
Edward Sapir (1884-1939), một trong những người sáng lập chuyên ngành ngôn ngữ
học nhân học, cũng đề cập đến văn hoá qua ngoại diên của nó: “Văn hoá, nghĩa là sự tập hợp
những phong tục và tín ngưỡng có tính kế thừa trong xã hội, quy định các sinh hoạt của đời
sống chúng ta” (Language: An introduction to the study of speech, 1921: 255).
Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp tại Venise năm 1970 cũ...
Nguồn: Lý Tùng Hiếu (2012), “Văn hoá và hệ thống văn hoá”, 
 (Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật & Du lịch Sài Gòn), số 7 (61), tháng 11/2012,
ISSN: 1859-3720, trang 19-28; , 12/12/2012.
-------oOo-------
VĂN HOÁ VÀ HỆ THỐNG VĂN HOÁ
GVC. TS. LÝ TÙNG HIẾU
(Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM)
Văn hoá là những hoạt động đã từ xưa, ra đời cùng với con người. Nhưng các khái
niệm văn hoá hệ thống văn hoá thì luôn mới mẻ, mỗi thời, mỗi ngành, thậm chí mỗi
người lại đem đến cho chúng những cách hiểu mới, định nghĩa mới. người chỉ thấy văn
hoá n một tập hợp các lãnh vực hoạt động thực tiễn của cộng đồng người, người lại
khăng khăng rằng văn hoá luôn luôn hệ thống, bao gồm những thành tố mà nội dung, tính
chất phụ thuộc vào loại hình nông nghiệp hay du mục…
Bài viết này không nhằm cung cấp định nghĩa mới cho các khái niệm trên, nhưng
trình bày những cách tiếp cận khác đối với chúng, được phát triển và thể nghiệm trong quá
trình nghiên cứu, giảng dạy hướng dẫn luận văn luận án của tác giả tại Khoa Văn hoá học,
Trường Đại học Khoa học hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,
Trường Đại học Văn hoá TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Văn hiến.
1. KHÁI NIỆM VĂN HOÁ
Từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào thế kỷ XIX, khái niệm “văn hoá” (culture) đã
được các nhà n tộc học, nhân học, ngôn ngữ học, văn hoá học… định nghĩa nhiều lần.
Điểm tương đồng của nhiều định nghĩa trong số đó là dùng cách liệt những bộ phận, yếu
tố hợp thành ngoại diên của khái niệm văn hoá.
Chẳng hạn, trong ngành dân tộc học, Sir Edward Burnett Tylor (1832-1917), người
sáng lập nhân học hội Anh, đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về văn hoá theo cách đó: “Văn
hóa hoặc văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, cái toàn thể phức hợp bao
gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục các năng lực hoặc
tập tục khác do con người thụ đắc với ch thành viên hội” (   !, 1871,
1958: 1).
Edward Sapir (1884-1939), một trong những người sáng lập chuyên ngành ngôn ngữ
học nhân học, cũng đề cập đến văn hoá qua ngoại diên của nó: “Văn hoá, nghĩa là sự tập hợp
những phong tục tín ngưỡng tính kế thừa trong hội, quy định các sinh hoạt của đời
sống chúng ta” ("##$  %&, 1921: 255).
Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp tại Venise năm 1970 cũng xác
định: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những
sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống lao động”
(Federico Mayor, '#() *( +',-!., 11/1989: 5).
Việt Nam, vào năm 1942-1943, Hồ Chí Minh (1890-1969), danh nhân văn hoá thế
giới của Việt Nam, cũng ghi lại trong tác phẩm '/01#2 một định nghĩa về văn hoá
1
Văn hóa và hệ thống văn hóa - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
Văn hóa và hệ thống văn hóa - Người đăng: quocthien0976-gmail-com
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
9 Vietnamese
Văn hóa và hệ thống văn hóa 9 10 947