Ktl-icon-tai-lieu

chữ quốc ngữ

Được đăng lên bởi xuanquang-manucian-gmail-com
Số trang: 5 trang   |   Lượt xem: 451 lần   |   Lượt tải: 0 lần
Tại·sao chỉ có Việt Nam đổi hệ·thống chữ·viết biểu·ý sang hệ·thống chữ·viết
dùng chữ·cái La·tinh?
Posted Tháng Một 21, 2011 by tiengvietmenyeu in Chính-danh, Sử·dụng hệ·thống
biểu·âm ABC để ghi tiếng Việt là một lựa·chọn sáng·suốt. Thẻ:việt nam, ĐặngHải-Nguyên. 2 phản hồi
Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý (ký tự – character) từ Nôm tự
(quốc ngữ xưa) sang hệ thống chữ viết biểu âm (chữ cái – letter) dùng chữ cái La
tinh (quốc ngữ nay) trong khi các quốc gia đồng văn khác như Trung Hoa, Nhật
Bản và Cao Ly (Triều Tiên hay Hàn Quốc) thì không?
A. Trước hết, tôi xin được điểm qua một cách khái quát về hệ thống chữ viết.
Trên thế giới, có nhiều hệ thống chữ viết khác nhau, nhưng tựu chung lại chỉ có hai
hệ thống: chữ biểu âm và chữ biểu ý.
Trong hệ thống chữ biểu âm, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc ký hiệu (notation) còn
được gọi là ký tự (character), nhưng các ký tự in được (printable character) được
sử dụng để đại diện cho mỗi âm hay âm vị còn được gọi là chữ cái (letter). Chẳng
hạn như chữ Latin, chữ Ả Rập, chữ Hindu, hiragana (平平平 Bình giả danh)
và katakana (平平平 Phiến giả danh) của Nhật Bản. Bảng chữ cái (alphabet) của một
số hệ thống chữ viết biểu âm là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói
thành từ (word), cụm từ (phrase). Sau đây là các bảng chữ cái tiêu biểu của một số
hệ thống:
Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.
Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν, Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.
Hebrew: (đọc từ phải sang trái) ‫ ת‬,‫ ש‬,‫ ר‬,‫ ק‬,‫ צ‬,‫ פ‬,‫ ע‬,‫ ס‬,‫ נ‬,‫ מ‬,‫ ל‬,‫ כ‬,‫ י‬,‫ ט‬,‫ ח‬,‫ ז‬,‫ ו‬,‫ ה‬,‫ ד‬,‫ ג‬,‫ ב‬,‫א‬.
Trong hệ thống chữ biểu ý, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc mỗi ký hiệu (notation)
còn được gọi là ký tự (character) đại diện cho một từ, hình vị hay đơn vị ngữ
nghĩa. Chẳng hạn như chữ Ai Cập, chữ Hán, chữ Maya và kanji (平平 Hán tự) của
Nhật Bản.
Bảng bộ thủ (平平) của hệ thống chữ viết biểu ý Trung Hoa, có thể được coi như
Bảng Mẫu tự Trung Hoa (Chinese Main Character Table) bởi lẽ 80% toàn bộ chữ
Hán được tạo ra bằng phương thức Hình Thanh (平平), (hay tượng thanh, hài thanh).
Mượn phần âm thanh (平) của một chữ có sẵn rồi ghép vào một bộ (phần hình 平)
chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới.
Bảng bộ thủ được phân loại thành 214 bộ (mẫu tự). Mỗi bộ thủ mẹ (mẫu tự) này
được kết hợp với bộ thủ khác hoặc thêm một số nét để tạo thành một ký hiệu mới
(new notation) hay ký tự (character) mới hay chữ con mới (sub-character). Mẫu tự
Trung Hoa được tạo ra dựa theo tám dạng né...
Tại·sao chỉ có Việt Nam đổi hệ·thống chữ·viết biểu·ý sang hệ·thống chữ·viết
dùng chữ·cái La·tinh?
Posted Tháng Một 21, 2011 by tiengvietmenyeu in Chính-danh, Sử·dụng hệ·thống
biểu·âm ABC để ghi tiếng Việt là một lựa·chọn sáng·suốt. Thẻ:việt nam, Đặng-
Hải-Nguyên. 2 phản hồi
Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý (ký tự – character) từ Nôm tự
(quốc ngữ xưa) sang hệ thống chữ viết biểu âm (chữ cái – letter) dùng chữ cái La
tinh (quốc ngữ nay) trong khi các quốc gia đồng văn khác như Trung Hoa, Nhật
Bản và Cao Ly (Triều Tiên hay Hàn Quốc) thì không?
A. Trước hết, tôi xin được điểm qua một cách khái quát về hệ thống chữ viết.
Trên thế giới, có nhiều hệ thống chữ viết khác nhau, nhưng tựu chung lại chỉ có hai
hệ thống: chữ biểu âm và chữ biểu ý.
Trong hệ thống chữ biểu âm, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc ký hiệu (notation) còn
được gọi là ký tự (character), nhưng các ký tự in được (printable character) được
sử dụng để đại diện cho mỗi âm hay âm vị còn được gọi là chữ cái (letter). Chẳng
hạn như chữ Latin, chữ Ả Rập, chữ Hindu, hiragana (平平平 Bình giả danh)
katakana (平平平 Phiến giả danh) của Nhật Bản. Bảng chữ cái (alphabet) của một
số hệ thống chữ viết biểu âm là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói
thành từ (word), cụm từ (phrase). Sau đây là các bảng chữ cái tiêu biểu của một số
hệ thống:
Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.
Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν, Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.
Hebrew: (đọc từ phải sang trái) ת ,ש ,ר ,ק ,צ ,פ ,ע ,ס ,נ ,מ ,ל ,כ ,י ,ט ,ח ,ז ,ו ,ה ,ד ,ג ,ב ,א.
Trong hệ thống chữ biểu ý, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc mỗi ký hiệu (notation)
còn được gọi là ký tự (character) đại diện cho một từ, hình vị hay đơn vị ngữ
nghĩa. Chẳng hạn như chữ Ai Cập, chữ Hán, chữ Maya và kanji (平平 Hán tự) của
Nhật Bản.
Bảng bộ thủ (平平) của hệ thống chữ viết biểu ý Trung Hoa, có thể được coi như
Bảng Mẫu tự Trung Hoa (Chinese Main Character Table) bởi lẽ 80% toàn bộ chữ
Hán được tạo ra bằng phương thức Hình Thanh (平平), (hay tượng thanh, hài thanh).
Mượn phần âm thanh () của một chữ có sẵn rồi ghép vào một bộ (phần hình )
chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới.
Bảng bộ thủ được phân loại thành 214 bộ (mẫu tự). Mỗi bộ thủ mẹ (mẫu tự) này
được kết hợp với bộ thủ khác hoặc thêm một số nét để tạo thành một ký hiệu mới
(new notation) hay ký tự (character) mới hay chữ con mới (sub-character). Mẫu tự
Trung Hoa được tạo ra dựa theo tám dạng nét cơ bản:
1. Nét ngang: hoành (viết từ trái sang phải) như trong chữ [ , nhất], (một)
2. Nét sổ thẳng: trực (viết từ trên xuống dưới) như trong chữ [ , thập],
chữ quốc ngữ - Trang 2
chữ quốc ngữ - Người đăng: xuanquang-manucian-gmail-com
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
5 Vietnamese
chữ quốc ngữ 9 10 352