Ktl-icon-tai-lieu

Học thuyết thể nhiễm sắc của Di truyền

Được đăng lên bởi heidii-heidi
Số trang: 7 trang   |   Lượt xem: 2297 lần   |   Lượt tải: 2 lần
Học thuyết thể nhiễm sắc của Di truyền - Thí nghiệm
của T. Morgan
Từ năm 1910, các nhà di truyền học giả thiết rằng các nhân tố di truyền Mendel là gen. Gen định
khu trong thể nhiễm sắc bởi vì tập tính của thể nhiễm sắc qua phân bào nguyên nhiễm, phân
bào giảm nhiễm, thụ tinh thể hiện tập tính của gen, tức là của nhân tố di truyền Mendel qua các
thế hệ. Nhưng các nhà di truyền tế bào cần chứng minh bằng thực nghiệm là các gen định khu
và liên kết với thể nhiễm sắc.
Năm 1909, Thomas H.Morgan đã tiến hành nghiên cứu với đối tượng ruồi quả
(Drosophila melanogaster). Ruồi quả là đối tượng thí nghiệm lý tưởng về di truyền học do chúng
dễ nuôi trong phòng thí nghiệm, sinh sản nhanh và trong thời gian ngắn có thể quan sát được
nhiều thế hệ con cháu. Hơn nữa, tế bào của chúng chỉ chứa 4 đôi thể nhiễm sắc (2n=8) trong đó
có 3 đôi thể nhiễm sắc thường và 1 đôi thể nhiễm sắc giới, đối với ruồi đực là XY và đối với ruồi
cái là XX, do đó dễ dàng phân tích kiểu nhân (caryotip) của chúng. Một trong các đặc tính rất quí
của ruồi là qua các thế hệ con cháu rất dễ quan sát thấy thể đột biến về màu mắt, dạng cánh
v.v.. Bằng nhiều thí nghiệm rất tỷ mỷ, Morgan đã chứng minh rằng đột biến về màu mắt ở ruồi
quả là có liên quan đến thể thể nhiễm sắc X và giả thiết là gen qui định màu mắt là định vị trong
thể

nhiễm

sắc

X.

Khi quan sát các quần thể ruồi quả, Morgan nhận thấy có nhiều ruồi đực mang mắt trắng trong
lúc đó ruồi dạng dại mang mắt đỏ. Ruồi đực mắt trắng là dạng đột biến : khi đem lai ruồi đực mắt
trắng với ruồi cái mắt đỏ (dạng dại) thì cho F1 toàn ruồi mắt đỏ. Như vậy, mắt trắng là tính
trạng lặn so với tính trạng mắt đỏ. Khi đem lai các ruồi mắt đỏ F1 với nhau Morgan
quan sát thấy sự phân tính đặc biệt ở F2 : tất cả các ruồi cái đều mang mắt đỏ, trong lúc đó ruồi
đực có 1/2 là mắt đỏ và 1/2 là mắt trắng. Morgan đã giả định là ở ruồi quả tính di truyền của màu
mắt là có liên quan đến thể nhiễm sắc giới tính cụ thể là gen qui định màu mắt định vị trong thể
nhiễm sắc X. Như vậy, gen qui định màu mắt có 2 alen: alen Wlà alen đột biến (lặn) và alen dại
W+

(trội).

Ruồi cái (kiểu gen XX) nếu mang 2 alen W+ W sẽ là ruồi cái mắt đỏ (vì alen W+ trội qui định mắt
đỏ). Nếu chúng mang 2 alen WW sẽ là ruồi cái mắt trắng (vì alen W là lặn qui định mắt trắng).
Đối với ruồi đực XY, vì X không có alen tương ứng (thường được gọi là bán hợp tử hemizygote) cho nên ruồi đực chỉ cần mang một alen W+ sẽ có mắt đỏ và khi mang một alen W
sẽ

có

mắt

trắng.

Ta hãy xem xét các công thức ...
H c thuy t th nhi m s c c a Di truy n - Thí nghi m ế
c a T. Morgan
Từ năm 1910, các nhà di truyền học giả thiết rằng các nhân tố di truyền Mendel là gen. Gen định
khu trong thể nhiễm sắc bởi tập tính của thể nhiễm sắc qua phân bào nguyên nhiễm, phân
bào giảm nhiễm, thụ tinh thể hiện tập tính của gen, tức của nhân tố di truyền Mendel qua các
thế hệ. Nhưng các nhà di truyền tế bào cần chứng minh bằng thực nghiệm các gen định khu
và liên kết với thể nhiễm sắc.
Năm 1909, Thomas H.Morgan đã tiến nh nghiên cứu với đối tượng ruồi quả
(Drosophila melanogaster). Ruồi quả là đối tượng thí nghiệm tưởng về di truyền học do chúng
dễ nuôi trong phòng thí nghiệm, sinh sản nhanh trong thời gian ngắn thể quan sát được
nhiều thế hệ con cháu. Hơn nữa, tế bào của chúng chỉ chứa 4 đôi thể nhiễm sắc (2n=8) trong đó
3 đôi thể nhiễm sắc thường 1 đôi thể nhiễm sắc giới, đối với ruồi đực là XY đối với ruồi
cái là XX, do đó dễ dàng phân tích kiểu nhân (caryotip) của chúng. Một trong các đặc tính rất quí
của ruồi qua các thế hệ con cháu rất dễ quan sát thấy thể đột biến về màu mắt, dạng cánh
v.v.. Bằng nhiều thí nghiệm rất tỷ mỷ, Morgan đã chứng minh rằng đột biến về màu mắt ruồi
quả liên quan đến thể thể nhiễm sắc X giả thiết gen qui định màu mắt định vị trong
thể nhiễm sắc X.
Khi quan sát các quần thể ruồi quả, Morgan nhận thấy nhiều ruồi đực mang mắt trắng trong
lúc đó ruồi dạng dại mang mắt đỏ. Ruồi đực mắt trắng là dạng đột biến : khi đem lai ruồi đực mắt
trắng với ruồi cái mắt đỏ (dạng dại) thì cho F1 toàn ruồi mắt đỏ. Như vậy, mắt trắng tính
trạng lặn so với tính trạng mắt đỏ. Khi đem lai c ruồi mắt đF1 với nhau Morgan
quan sát thấy sự phân tính đặc biệt ở F2 : tất cả các ruồi cái đều mang mắt đỏ, trong lúc đó ruồi
đực có 1/2 là mắt đỏ và 1/2 là mắt trắng. Morgan đã giả định là ở ruồi quả tính di truyền của màu
mắt liên quan đến thể nhiễm sắc giới tính cụ thể gen qui định màu mắt định vị trong thể
nhiễm sắc X. Như vậy, gen qui định màu mắt 2 alen: alen Wlà alen đột biến (lặn) alen dại
W+ (trội).
Ruồi cái (kiểu gen XX) nếu mang 2 alen W+ W sẽ là ruồi cái mắt đỏ (vì alen W+ trội qui định mắt
đỏ). Nếu chúng mang 2 alen WW sẽ ruồi cái mắt trắng (vì alen W lặn qui định mắt trắng).
Đối với ruồi đực XY, X không alen tương ứng (thường được gọi bán hợp tử -
hemizygote) cho nên ruồi đực chỉ cần mang một alen W+ sẽ có mắt đỏkhi mang một alen W
sẽ mắt trắng.
Ta hãy xem t các công thức lai Morgan đã thí nghiệm dưới đây sẽ thấy giả thiết của
Morgan:
Học thuyết thể nhiễm sắc của Di truyền - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
Học thuyết thể nhiễm sắc của Di truyền - Người đăng: heidii-heidi
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
7 Vietnamese
Học thuyết thể nhiễm sắc của Di truyền 9 10 80