Ktl-icon-tai-lieu

Kinh tế vĩ mô

Được đăng lên bởi bkavch
Số trang: 2 trang   |   Lượt xem: 235 lần   |   Lượt tải: 0 lần
3.2. Bài học cho Việt Nam từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu :
Nợ nước ngoài cao, thâm hụt ngân sách, chi tiêu quá khả năng là những nguyên nhân chính dẫn
tới khủng hoảng nợ công của các nền kinh tế, đó là những minh chứng thực tiễn sâu sắc đối với các quốc
gia trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó có Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá
nợ công trên các góc độ sau :
3.2.1. Duy trì tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô :
3.2.1.1. Kiềm chế lạm phát :
Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiết nền kinh tế. Nếu như lạm
phát ở mức cao, đồng tiền bị mất giá, khả năng quản lý của nhà nước thông qua tiền tệ bị vô hiệu hóa. Khi
nội tệ bị mất giá thì người dân sẽ có xu hướng tích trữ vàng và ngoại tệ. Đồng thời, các biểu thuế của nhà
nước trong một thời gian nhất định sẽ không theo kịp sự gia tăng của lạm phát. Từ đó, chi tiêu ngân sách
tăng cao còn nguông thu cho thuế thì giảm, vì vậy chính phủ phải vay nợ từ bên ngoài để bù vào khoản
thâm hụt đó. Lạm phát tăng cao khiến nền kinh tế mất cân đối. Điều đó không có nghĩa là giảm lạm phát
về con số 0 mà là phải đưa lạm phát về một con số. Mức lạm phát vừa phải khiến chi phí thực tế mà nhà
sản xuất phải chịu để mua đầy vào lao động giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng
sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tỷ lệ thất nghiệp giảm. Bởi vậy, nếu một cuộc gia có thể duy trì mức
độ lạm phát vừa phải có thể sẽ có lợi cho sự phát triển của quốc gia đó. Lúc đó, lạm phát sẽ không còn là
mối nguy hại đến kinh tế mà là công cụ đắc lực giúp điều tiết và phát triển kinh tế hiệu quả.
3.2.1.2. Giữ mức tăng trưởng ổn định
Tăng trưởng ổn định là mức độ phát triển hiệu quả, bền vững của nền kinh tế. Biểu hiện là tốc độ
tăng trưởng ở mức vừa phải trong một thời gian kéo dài, thường là 20-30 năm. Các quốc gia không nên
theo đuổi mức tăng trưởng cao, quá nóng. Nguyên nhân là vì tăng trưởng nóng dẫn đến cung cung tăng
trong khi cầu không đổi, từ đó lạm phát cao, nhập khẩu tăng mạnh và nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy
thoái.
3.2.1.3. Minh bạch tài chính công
Các thông tin của chính phủ về tài chính phải minh bạch và chính xác, không được che giấu các
khoản nợ hay tín hiệu bất ổn thị trường. Nếu tình trạng che giấu xảy ra thì người dân sẽ không biết cách
chi tiêu hợp lý và quan trọng hơn nạn tham nhũng sẽ trở nên phổ biến. Khủng hoảng nợ công Hy Lạp
chính là hồi chuông cảnh báo về nạn tham nhũng của nước này và là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
cũng như một số quốc gia ...
3.2. Bài học cho Việt Nam từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu :
Nợ nước ngoài cao, thâm hụt ngân sách, chi tiêu quá khả năng là những nguyên nhân chính dẫn
tới khủng hoảng nợ công của các nền kinh tế, đó là những minh chứng thực tiễn sâu sắc đối với các quốc
gia trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó có Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá
nợ công trên các góc độ sau :
3.2.1. Duy trì tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô :
3.2.1.1. Kiềm chế lạm phát :
Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiết nền kinh tế. Nếu như lạm
phát ở mức cao, đồng tiền bị mất giá, khả năng quản lý của nhà nước thông qua tiền tệ bị vô hiệu hóa. Khi
nội tệ bị mất giá thì người dân sẽ có xu hướng tích trữ vàng và ngoại tệ. Đồng thời, các biểu thuế của nhà
nước trong một thời gian nhất định sẽ không theo kịp sự gia tăng của lạm phát. Từ đó, chi tiêu ngân sách
tăng cao còn nguông thu cho thuế thì giảm, vì vậy chính phủ phải vay nợ từ bên ngoài để bù vào khoản
thâm hụt đó. Lạm phát tăng cao khiến nền kinh tế mất cân đối. Điều đó không có nghĩa là giảm lạm phát
về con số 0 mà là phải đưa lạm phát về một con số. Mức lạm phát vừa phải khiến chi phí thực tế mà nhà
sản xuất phải chịu để mua đầy vào lao động giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng
sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tỷ lệ thất nghiệp giảm. Bởi vậy, nếu một cuộc gia có thể duy trì mức
độ lạm phát vừa phải có thể sẽ có lợi cho sự phát triển của quốc gia đó. Lúc đó, lạm phát sẽ không còn là
mối nguy hại đến kinh tế mà là công cụ đắc lực giúp điều tiết và phát triển kinh tế hiệu quả.
3.2.1.2. Giữ mức tăng trưởng ổn định
Tăng trưởng ổn định là mức độ phát triển hiệu quả, bền vững của nền kinh tế. Biểu hiện là tốc độ
tăng trưởng ở mức vừa phải trong một thời gian kéo dài, thường là 20-30 năm. Các quốc gia không nên
theo đuổi mức tăng trưởng cao, quá nóng. Nguyên nhân là vì tăng trưởng nóng dẫn đến cung cung tăng
trong khi cầu không đổi, từ đó lạm phát cao, nhập khẩu tăng mạnh và nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy
thoái.
3.2.1.3. Minh bạch tài chính công
Các thông tin của chính phủ về tài chính phải minh bạch và chính xác, không được che giấu các
khoản nợ hay tín hiệu bất ổn thị trường. Nếu tình trạng che giấu xảy ra thì người dân sẽ không biết cách
chi tiêu hợp lý và quan trọng hơn nạn tham nhũng sẽ trở nên phổ biến. Khủng hoảng nợ công Hy Lạp
chính là hồi chuông cảnh báo về nạn tham nhũng của nước này và là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
cũng như một số quốc gia đang phát triển khác, nạn tham nhũng đang phổ biến và lấy đi khối tài sản
không nhỏ. Do đó, chính phủ phải luôn công bố tình trạng thâm hụt cán cân ngân sách nhà nước một cách
trung thực, bao quát cả quá khứ, hiện tại và dự định cho tương lai để các tổ chức, cá nhân trong nước có
kế hoạch chi tiêu hợp lý, giảm nhẹ gánh nặng cho chính phủ.
3.2.2. Thắt chặt hoạt động tài khóa
3.2.2.1. Kiểm soát và quản lý nợ công
Quản lý nợ công phải quan tâm đến tỷ lệ nợ công trên GDP. Để đảm bảo an toàn, các nước
thường sử dụng tiêu chí sau để làm giới hạn vay và trả nợ : tỷ lệ nợ công trên GDP không vượt quá 50%-
60% hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế không có hạn mức an toàn
chung cho nền kinh tế. Để xác định, đánh giá đúng đắn mức độ an toàn của nợ công, không thể chỉ quan
tâm đến tỷ lệ nợ GDP mà cần phải xem xét nợ công một cách toàn diện trong mối quan hệ với hệ thống
Kinh tế vĩ mô - Trang 2
Kinh tế vĩ mô - Người đăng: bkavch
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
2 Vietnamese
Kinh tế vĩ mô 9 10 159