Ktl-icon-tai-lieu

KInh tế chính trị

Được đăng lên bởi ngakhtc
Số trang: 194 trang   |   Lượt xem: 8674 lần   |   Lượt tải: 1 lần
CHUYÊN ĐỀ 1: CÁC LÝ THUYẾT KT HỌC TƯ SẢN TRƯỚC MÁC
Có hai trường phái tư tưởng về những thứ đại loại như lượng tài sản gắn liền với thời kỳ tiền tư sản
và trong những năm đầu mà lợi nhuận có được do nắm bắt được những điều mới mẽ của kinh tế học cổ
điển tiếp sau đó mà nó được đánh giá là dễ hiểu hơn và là một công cụ cho CNTB phát triển hoàn chỉnh.
Trường phái đầu tiên là Chủ Nghĩa Trọng Thương, quan điểm của trường phái này là bình ổn giá cả hàng
hoá khi mở rộng buôn bán và mối bận tâm của họ là về tiền tệ mà đã được định hình từ cuối thời phong
kiến và đầu thời kỳ tư bản. Trường phái thứ hai là Trường Phái Trọng Nông, họ là những người đối lập
với trường phái trọng thương, và họ chủ trương bình ổn giá đất đai vì cho đây là mới chính là tài sản thật
sự -- đất đai luôn là nền tảng cơ bản của quyền lực và tài sản của giai cấp phong kiến.
I. Chủ Nghĩa Trọng Thương
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của CNTT
Chủ Nghĩa Trọng Thương chỉ là một nhóm nhỏ có nguồn gốc từ phong trào và chiến lượt mở rộng
tài sản, mà tài sản đầu tiên là của các thương gia, thứ hai là của chính phủ tư bản trong những năm đầu.
Phong trào và chiến lượt đó bắt đầu từ thế kỷ 16 và kéo dài sang thế kỷ 18 và một phần của thế kỷ 19.
Hầu hết những người trong chủ nghĩa trọng thương chính họ cũng là thương gia hay là những
người trong bộ máy chính phủ và các bài viết của họ đều ảnh huởng đến khát vọng gia tăng lợi nhuận kinh
doanh và cả hổ trợ tài chính cho chính phủ thông qua việc đánh thuế trên tài sản được tạo ra để bảo vệ cho
chính các lợi ích này. Đây là thời kỳ nổi bật của các tiểu bang trong một nước và các chính phủ của một
nuớc mà trong đó họ đóng vai trò duy nhất trong việc huy động lợi nhuận cho các thương gia. Điều này
không chỉ đúng vì lợi nhuận trong nuớc (trong đó các thương gia cần chính phủ để thiết lập và duy trì các
điều kiện thuận lợi cho họ để tạo ra lợi nhuận) mà còn đúng vì lợi ích trong trường quốc tế.
Trong những năm đầu của thời kỳ tư sản, khi đó nhu cầu thực sự của hầu hết mọi người đều bị giới
hạn do đồng lương thấp, các thưong gia gấp rút đi tìm thị trường và tài sản ở nước ngoài và cái họ cần là
chính phủ phải tiên phong trong việc mở rộng các thị trường này và ủng hộ thương nghiệp cũng như có
các chính sách tiền tệ có lợi cho họ. Thời này cũng chẳng có các tổ chức đa quốc gia như Tổ Chức Kinh
Tế Thế Giới WTO hay Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nhằm bảo vệ quyền lợi cho họ như ngày nay. Để thay thế,
họ lại đi tìm mối quan hệ cộng sinh với chính quyền quốc gia và kết quả của của cuộ...
CHUYÊN ĐỀ 1: CÁC LÝ THUYẾT KT HỌC TƯ SẢN TRƯỚC MÁC
Có hai trường phái tư tưởng về những thứ đại loại như lượng tài sản gắn liền với thời kỳ tiền tư sản
trong những năm đầu lợi nhuận được do nắm bắt được những điều mới mcủa kinh tế học cổ
điển tiếp sau đó được đánh giá dễ hiểu hơn một công cụ cho CNTB phát triển hoàn chỉnh.
Trường phái đầu tiên Chủ Nghĩa Trọng Thương, quan điểm của trường phái này là bình ổn giá cả hàng
hoá khi mrộng buôn bán mối bận tâm của họ về tiền tệ đã được định hình từ cuối thời phong
kiến đầu thời kỳ tư bản. Trường phái thứ hai Trường Phái Trọng Nông, họ những người đối lập
với trường phái trọng thương, họ chủ trương bình ổn giá đất đai cho đây mới chính tài sản thật
sự -- đất đai luôn là nền tảng cơ bản của quyền lực và tài sản của giai cấp phong kiến.
I. Chủ Nghĩa Trọng Thương
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của CNTT
Chủ Nghĩa Trọng Thương chỉ là một nhóm nhỏ có nguồn gốc từ phong trào và chiến lượt mở rộng
tài sản, tài sản đầu tiên của các thương gia, thứ hai của chính phủ bản trong những năm đầu.
Phong trào và chiến lượt đó bắt đầu từ thế kỷ 16 và kéo dài sang thế kỷ 18 và một phần của thế kỷ 19.
Hầu hết những người trong chủ nghĩa trọng thương chính họ cũng là thương gia hay là những
người trong bộ máy chính phủ và các bài viết của họ đều ảnh huởng đến khát vọng gia tăng lợi nhuận kinh
doanh và cả hổ trợ tài chính cho chính phủ thông qua việc đánh thuế trên tài sản được tạo ra để bảo vệ cho
chính các lợi ích này. Đây thời kỳ nổi bật của các tiểu bang trong một nước các chính phủ của một
nuớc trong đó họ đóng vai trò duy nhất trong việc huy động lợi nhuận cho các thương gia. Điều này
không chỉ đúng lợi nhuận trong nuớc (trong đó các thương gia cần chính phủ để thiết lập và duy trì các
điều kiện thuận lợi cho họ để tạo ra lợi nhuận) mà còn đúng vì lợi ích trong trường quốc tế.
Trong những năm đầu của thời kỳ tư sản, khi đó nhu cầu thực sự của hầu hết mọi người đều bị giới
hạn do đồng lương thấp, các thưong gia gấp rút đi tìm thị trường tài sản ớc ngoài cái họ cần
chính phủ phải tiên phong trong việc mở rộng các thị trường này ủng hộ thương nghiệp cũng như
các chính sách tiền tệ lợi cho họ. Thời này cũng chẳng các tổ chức đa quốc gia như Tổ Chức Kinh
Tế Thế Giới WTO hay Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nhằm bảo vệ quyền lợi cho họ như ngày nay. Để thay thế,
họ lại đi tìm mối quan hệ cộng sinh với chính quyền quốc gia và kết quả của của cuộc tìm kiếm này là chủ
nghĩa đế quốc hiện đại.
CNTT hay phái coi trọng thương mại tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp sản ra đời trong
thời kỳ tan rã của PTSX phong kiến, phát sinh PTSX CNTB, chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang
kinh tế thị trường. Nó hình thành phát triển Tây âu vào giữa thế kỷ XV, ra đời vào khoảng những
năm 1450 phát triển tới những năm 1650 sau đó bị suy đồi. S xuất hiện chủ nghĩa trọng thương gắn
liền với những tiền đề lịch sử sau:
- Nhân tố kinh tế: Đứng về mặt lịch sử nói, giai đoạn này bao gồm thời kỳ tích lũy bản
nguyên thủy của CNTB, tức là thời kỳ tước đoạt bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích lũy tiền tệ ở ngoài
phạm vi các nước Châu Âu, bằng cách ăn cướp và trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa thong
qua con đường ngoại thương.
Vào thời điểm này hàng hóa ở Châu Au phát triển mạnh.
Thị trường dân tộc trong nước mở rộng xuất hiện các hoạt động giao thông quốc tế.
Tiền tệ không chỉ được sử dụng làm phương tiện trung gian trong trao đổi hàng hóa mà tiền tệ còn
được sử dụng làm tư bản để sinh lợi một cách phổ biến.
Karl Marx đã chỉ ra là, để cho CNTB ra đời cần phải có 2 điều kiện:
Một là: phải tích lũy được một số tiền lớn vào trong tay giai cấp TS để sản xuất kinh doanh theo
PTSX TBCN
Hai là: Phải số đông người lao động tự do về than thể nhưng bị tước đoạt hết TLSX buộc phải
bán SLD và trở thành người làm thuê
- Nhân tố tư tưởng: phong trào Phục Hưng chống tư tưởng đen tối thời Trung cổđề cao tư tưởng tự
do nhân quyền bình đẳng, chủ nghĩa duy vật chống lại các thuyết giáo duy tâm của nhà thờ (như Bruno,
Bacon ở Anh). Khoa học tự nhiên (cơ học, thiên văn học, địa lý) phát triển mạnh, gắn liền với tên tuổi của
1
KInh tế chính trị - Trang 2
Để xem tài liệu đầy đủ. Xin vui lòng
KInh tế chính trị - Người đăng: ngakhtc
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
194 Vietnamese
KInh tế chính trị 9 10 415