Ktl-icon-tai-lieu

Tổng quan nước ngầm

Được đăng lên bởi Minh Hoang Phan
Số trang: 2 trang   |   Lượt xem: 1417 lần   |   Lượt tải: 2 lần




Chương 1 Tổng quan nước ngầm
1. Khái niệm
Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất
hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Ðôi
khi nguời ta còn phân biệt nước ngầm nông, nuớc ngầm sâu và nước chôn vùi. "Nước ngầm là
một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết,
trong các khe nứt, hang caxto dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của
con người".
2. Đặc điểm
Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra
và chứa. Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm
so với nuớc mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng
nước đầu vào. Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa. Các
nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương.
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng
sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khẳ năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo
thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nuớc ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với
dịa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và mực nuớc biến dổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của
nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong
lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước. Theo không
gian phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
Vùng thu nhận nước.
Vùng chuyển tải nước.
Vùng khai thác nước có áp. Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường
khá xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. Ðây
là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định. Trong các khu vực phát triển đá
cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxto di chuyển theo các khe nứt caxto. Trong các dải
cồn cát vùng ven biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển.
3. Phân loại
Có hai loại nước ngầm: Nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực.
Nước ngầm không có áp lực: Là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp
đá này nằm bên trên lớp đá không thấm nhu lớp diệp thạch hoặc lớp sét nén chặt. Loại nước
ngầm này có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó phải thì phải đào giếng xuyên qua lớp đá
ngậm rồi dùng bơm hút nước lên. Nước ngầm loại này thường ở không sâu dưới mặt đất, vì có
nhiều trong mùa...
Chương 1 Tổng quan nước ngầm
1. Khái niệm
Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất
hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Ðôi
khi nguời ta còn phân biệt nước ngầm nông, nuớc ngầm sâu và nước chôn vùi. "Nước ngầm là
một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết,
trong các khe nứt, hang caxto dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của
con người".
2. Đặc điểm
Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra
và chứa. Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm
so với nuớc mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng
nước đầu vào. Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa. Các
nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương.
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng
sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khẳ năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo
thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nuớc ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với
dịa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và mực nuớc biến dổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của
nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong
lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước. Theo không
gian phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
Vùng thu nhận nước.
Vùng chuyển tải nước.
Vùng khai thác nước có áp. Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường
khá xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. Ðây
là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định. Trong các khu vực phát triển đá
cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxto di chuyển theo các khe nứt caxto. Trong các dải
cồn cát vùng ven biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển.
3. Phân loại
Có hai loại nước ngầm: Nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực.
Nước ngầm không có áp lực: Là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp
đá này nằm bên trên lớp đá không thấm nhu lớp diệp thạch hoặc lớp sét nén chặt. Loại nước
ngầm này có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó phải thì phải đào giếng xuyên qua lớp đá
ngậm rồi dùng bơm hút nước lên. Nước ngầm loại này thường ở không sâu dưới mặt đất, vì có
nhiều trong mùa mưa và ít dần trong mùa khô.
Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp đá này bị
kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm. Do bị kẹp chặt giữa hai lớp đá không thấm nên
nước có một áp lực rất lớn vì thế khi khai thác người ta dùng khoan xuyên qua lớp đá không
thấm bên trên và chạm vào lớp nước này nó sẽ tự phun lên mà không cần phải bơm. Loại nước
Tổng quan nước ngầm - Trang 2
Tổng quan nước ngầm - Người đăng: Minh Hoang Phan
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
2 Vietnamese
Tổng quan nước ngầm 9 10 377