Ktl-icon-tai-lieu

Lạm phát ở Việt Nam: Vài lời bình luận

Được đăng lên bởi bai-tap-on-thi
Số trang: 3 trang   |   Lượt xem: 312 lần   |   Lượt tải: 0 lần
20 July 2004
Lạm phát ở Việt Nam: Vài lời bình luận
Vũ Quang Việt
Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét khởi sắc như tốc độ phát triển
kinh tế có vẻ như đang ngày càng khởi sắc, chẳng hạn như tốc độ phát triển kinh tế đã từ
4.8% năm 1999 lên đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy những đám
mây mù dường như đang kéo lại gần từ phía chân trời xa. (Coi số liệu trên bảng thống kê
đính kèm).
Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ở châu Á năm 1997, Việt Nam chủ trương chính
sách kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bù lại mức giảm đầu
tư trực tiếp của nước ngoài. Ta thấy mức tăng đầu tư nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6%
GDP năm 1999 lên tới 35% GDP vào năm 2003. Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế
giới, thế nhưng do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực
nhà nước, tốc độ phát triển cũng chỉ đạt được 7,3% . Đầu tư cao nhưng khoảng 60%, tức
là khoảng 7,5 tỷ USD vẫn là đầu tư của nhà nước, trong đó nguồn vốn đầu tư của nhà
nước là từ ngân sách (gần 40%), vay nước ngoài (30%), phần còn lại là vốn doanh nghiệp
(không biết bao nhiêu là từ vay ngân hàng và bao nhiêu là vốn tự có). Tỷ lệ đầu tư của
nước ngoài giảm, nhưng có một điểm sáng là tỷ lệ đầu tư của tư nhân tăng từ 24% năm
1999 lên 26,7% năm 2003. Tỷ lệ đầu tư của nhà nước tiếp tục cao, tổng số tiền đầu tư
lớn, do đó tham nhũng bành trướng ở mức độ gần như không còn kiểm soát được là điều
dễ hiểu. Nếu như tỷ lệ tham nhũng tiền đầu tư của nhà nước lên 20-30% như đã thảo luận
trong kỳ họp quốc hội vừa qua, thì số tiền tham nhũng có thể lên tới 1,5 – 2,25 tỷ USD
một năm.
Trong đầu tư, chính sách của nhà nước vẫn là tập trung phát triển sản xuất thay thế nhập
khẩu (sắt thép, xi măng, đường), kể cả đưa tới việc bảo vệ thị trường nội địa cho đầu tư
nước ngoài (xe hơi, xe gắn máy), thay vì tập trung phát triển sản xuất nhằm xuất khẩu.
Do chính sách trên, thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu ngày càng cao, tăng từ 0% GDP
năm 1999 lên 13,5% GDP năm 2003. Mức thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu năm 2003 là
5.1 tỷ USD. Mức thiếu hụt này chưa tạo nên khủng hoảng cán cân thanh toán vì hiện nay
thiếu hụt được bù đắp bằng 2,5 tỷ do lao động người Việt ở nước ngoài và Việt kiều gửi
về, khoảng 1 tỷ đầu tư trực tiếp của nước ngoài và phần còn lại là vay mượn nước ngoài.
Nhưng tình hình phát triển kích cầu hệ thống quốc doanh thiếu hiệu quả này không thể
tiếp tục trong tương lai, và đó là tương lai rất gần.
Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng ...
20 July 2004
Lm phát Vit Nam: Vài li bình lun
Vũ Quang Vit
Trong vài năm qua nn kinh tế Vit Nam có nhng nét khi sc như tc độ phát trin
kinh tế có v như đang ngày càng khi sc, chng hn như tc độ phát trin kinh tế đã t
4.8% năm 1999 lên đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích k hơn ta thy nhng đám
mây mù dường như đang kéo li g
n t phía chân tri xa. (Coi s liu trên bng thng kê
đính kèm).
Sau cuc khng hong tài chính xy châu Á năm 1997, Vit Nam ch trương chính
sách kích cu nhm gim bt nh hưởng ca cuc khng hong và bù li mc gim đầu
tư trc tiếp ca nước ngoài. Ta thy mc tăng đầu tư nhanh chóng đưa lên t t l 27,6%
GDP năm 1999 lên ti 35% GDP vào năm 2003. Đây c
ũng là t l đầu tư k lc trên thế
gii, thế nhưng do hiu qu sn xut thp vì chính sách đầu tư vn tp trung vào khu vc
nhà nước, tc độ phát trin cũng ch đạt được 7,3% . Đầu tư cao nhưng khong 60%, tc
là khong 7,5 t USD vn là đầu tư ca nhà nước, trong đó ngun vn đầu tư ca nhà
nước là t ngân sách (gn 40%), vay nước ngoài (30%), phn còn li là vn doanh nghip
(không biết bao nhiêu là t vay ngân hàng và bao nhiêu là vn t có). T l đầu tư ca
nước ngoài gim, nhưng có mt đim sáng là t l đầu tư ca tư nhân tăng t 24% năm
1999 lên 26,7% năm 2003. T l đầu tư ca nhà nước tiếp tc cao, tng s tin đầu tư
ln, do đó tham nhũng bành trướng mc độ gn như không còn kim soát được là điu
d hiu. Nếu như t l tham nhũng tin đầu tư ca nhà nước lên 20-30% như đã tho lun
trong k hp quc hi va qua, thì s tin tham nhũng có th lên ti 1,5 – 2,25 t USD
mt năm.
Trong đầu tư, chính sách ca nhà nước vn là tp trung phát trin sn xut thay thế nhp
khu (st thép, xi măng, đường), k c đưa ti vic bo v th trường ni địa cho đầu tư
nước ngoài (xe hơi, xe gn máy), thay vì tp trung phát trin sn xut nhm xut khu.
Do chính sách trên, thiếu ht cán cân xut nhp khu ngày càng cao, tăng t 0% GDP
năm 1999 lên 13,5% GDP năm 2003. Mc thiếu ht cán cân xut nhp khu năm 2003 là
5.1 t USD. Mc thiếu ht này chưa to nên khng hong cán cân thanh toán vì hin nay
thiếu ht được bù đắp bng 2,5 t do lao động người Vit nước ngoài và Vit kiu gi
v, khong 1 t đầu tư trc tiếp ca nước ngoài và phn còn li là vay mượn nước ngoài.
Nhưng tình hình phát trin kích cu h thng quc doanh thiếu hiu qu này không th
tiếp tc trong tương lai, và đó là tương lai rt gn.
Chính sách kích cu, đi lin và đòi hi ngân hàng tăng tín dng đã đưa lm phát đến mc
báo động. C năm 2002, lm phát là 3%. Ch trong 6 tháng đầu năm lm phát đã lên ti
7,2%. Và cho c năm 2004, lm phát khó lòng dưới 10%. Vic tăng lương nhm tăng
hiu qu lao động s không bt kp lm phát.
Các nhà làm chính sách trong nước thì thay vì nhn chân vn đề li m ra nhng cuc
tranh lun mt cách vô nghĩa gn 6 tháng khi vào cui năm 2003, mc tăng tín dng, tin
và gn-như-tin (quasi-money) lên ti mc báo động t 30 đến 40% (coi s liu mi
Lạm phát ở Việt Nam: Vài lời bình luận - Trang 2
Lạm phát ở Việt Nam: Vài lời bình luận - Người đăng: bai-tap-on-thi
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
3 Vietnamese
Lạm phát ở Việt Nam: Vài lời bình luận 9 10 475