Ktl-icon-tai-lieu

Luật quốc tế

Được đăng lên bởi Hoàng BG
Số trang: 3 trang   |   Lượt xem: 836 lần   |   Lượt tải: 2 lần
Bài tiểu luận So sánh quy chế pháp lý của thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế:
I/ Đặt vấn đề: Hai vùng biển: thềm lục địa và đặc quyền kinh tế là hai
vùng biển quốc gia có quyền chủ quyền và quyền tài phán, và là hai
trong số các các chế định được quy định trong Công Ước về Luật
Biển được ký kết vào ngày 30/4/1982, quy định những vấn đề thuộc
pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hợp tác, giải quyết tranh chấp, …
Nhưng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là hai vùng biển mới
được xem xét và đưa vào Luật biển quốc tế, và là hai vùng biển khá
đặc thù không giống bất kỳ vùng biển cổ điển nào trước đây. Chính
vì vậy, để rõ hơn những quy chế pháp lý của hai vùng biển này, ta sẽ
đi so sánh chúng trên nhiều khía cạnh khác nhau.
II/ Giải quyết vấn đề:
1/ Khái niệm:
+ Vùng đặc quyền kinh tế: Là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải,
đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần V – Vùng đặc
quyền kinh tế của công ước luật biển 1982, theo đó các quyền và
quyền tài phán của quốc gia ven biển, các quyền cũng như các
quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp
của Công ước điều chỉnh. Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý
tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
+ Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và phần đất dưới đáy biển bên
ngoài lãnh hải của quốc gia đó cho đến bề ngoài của rìa lục địa hoặc
cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải 200 hải lý khi
bề ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.
Thềm lục địa không mở rộng ra ngoài giới hạn 350 hải lý hoặc không
đươc vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m (điều 77
Công ước 1982).
2/ So sánh quy chế pháp lý giữa vùng đặc quyền kinh tế và vùng
thềm lục địa:
a/ Giống nhau: Đều là hai vấn đề mới được đề cập và mới được
xem xét thêm vào luật biển quốc tế tại Công ước luật biển năm 1982.
Các quốc gia ven biển đều không có quyền chủ thể mà chỉ có các
quyền mang tính chất chủ quyền đối với việc thăm dò và khai thác tài
nguyên thiên nhiên của mình. Đây là quyền mà chỉ có quốc gia hoặc
một số các cơ quan chính phủ của nó có thể có và sự sở hữu quyền
có tính chất chủ quyền này là cho lợi ích chung và có khả năng thực
hiện các chức năng riêng của mình. Các quốc gia ven biển đều có
quyền tài phán trên cả hai vùng về việc:

+ Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; +
Nghiên cứu khoa học về biển;
+ Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Quyền tài phán là hệ quả của
quyền chủ quyền, có tác dụng bổ trợ, tạo ra môi trường để thực hiện
quyền c...
Bài tiểu luận So sánh quy chế pháp lý của thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế:
I/ Đặt vấn đề: Hai vùng biển: thềm lục địa và đặc quyền kinh tế là hai
vùng biển quốc gia có quyền chủ quyền và quyền tài phán, và là hai
trong số các các chế định được quy định trong Công Ước về Luật
Biển được ký kết vào ngày 30/4/1982, quy định những vấn đề thuộc
pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hợp tác, giải quyết tranh chấp, …
Nhưng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là hai vùng biển mới
được xem xét và đưa vào Luật biển quốc tế, và là hai vùng biển khá
đặc thù không giống bất kỳ vùng biển cổ điển nào trước đây. Chính
vì vậy, để rõ hơn những quy chế pháp lý của hai vùng biển này, ta s
đi so sánh chúng trên nhiều khía cạnh khác nhau.
II/ Giải quyết vấn đề:
1/ Khái niệm:
+ Vùng đặc quyền kinh tế: Là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải,
đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần V – Vùng đặc
quyền kinh tế của công ước luật biển 1982, theo đó các quyền và
quyền tài phán của quốc gia ven biển, các quyền cũng như các
quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp
của Công ước điều chỉnh. Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý
tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
+ Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và phần đất dưới đáy biển bên
ngoài lãnh hải của quốc gia đó cho đến bề ngoài của rìa lục địa hoặc
cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải 200 hải lý khi
bề ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.
Thềm lục địa không mở rộng ra ngoài giới hạn 350 hải lý hoặc không
đươc vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m (điều 77
Công ước 1982).
2/ So sánh quy chế pháp lý giữa vùng đặc quyền kinh tế và vùng
thềm lục địa:
a/ Giống nhau: Đều là hai vấn đề mới được đề cập và mới được
xem xét thêm vào luật biển quốc tế tại Công ước luật biển năm 1982.
Các quốc gia ven biển đều không có quyền chủ thể mà chỉ có các
quyền mang tính chất chủ quyền đối với việc thăm dò và khai thác tài
nguyên thiên nhiên của mình. Đây là quyền mà chỉ có quốc gia hoặc
một số các cơ quan chính phủ của nó có thể có và sự sở hữu quyền
có tính chất chủ quyền này là cho lợi ích chung và có khả năng thực
hiện các chức năng riêng của mình. Các quốc gia ven biển đều có
quyền tài phán trên cả hai vùng về việc:
Luật quốc tế - Trang 2
Luật quốc tế - Người đăng: Hoàng BG
5 Tài liệu rất hay! Được đăng lên bởi - 1 giờ trước Đúng là cái mình đang tìm. Rất hay và bổ ích. Cảm ơn bạn!
3 Vietnamese
Luật quốc tế 9 10 157